dịch vụ kế toán giá rẻ

Quý doanh nghiệp nên lưu ý khi cho đóng nhờ bảo hiểm xã hội sẽ bị xử phạt như nào để tránh gặp phải những rắc rối không đáng có xảy ra

Đóng nhờ bảo hiểm xã hội có bị phạt không

Quy định về hành vi đóng nhờ BHXH

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị định 88/2015/NĐ-CP như sau:

“Điều 27. Vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa những nội dung có liên quan đến việc hưởng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyên, bảo hiểm thất nghiệp.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi giả mạo hồ sơ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để trục lợi chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mỗi hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp giả mạo”.

Như vậy nếu công ty có người đóng bảo hiểm giả mạo, người gửi công ty đóng bảo hiểm xã hội sẽ bị xử phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng và công ty bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và quá trình đóng sẽ không được ghi nhận.

Trên là tóm lược trường hợp đóng nhờ bảo hiểm xã hội có bị phạt không

Để tránh các trường hợp sai phạm về đóng nhờ bảo hiểm xã hội thì kế toán cần nắm bắt một số vấn đề sau về bảo hiểm xã hội

Đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 như sau:

Điều 2: Đối tượng áp dụng

1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về luật lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng.

Như vậy, theo quy định trên thì người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ 01 tháng đến dưới 03 tháng, HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng thì thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong doanh nghiệp.

Nếu trường hợp người ngoài doanh nghiệp xin đóng BHXH và hàng tháng nộp 100% tiền bảo hiểm. Trường hợp này, hai người ngoài không làm việc tại công ty, không thuộc đối tượng đóng mà công ty yêu cầu thì sẽ không được đóng hộ BHXH.

Những thay đổi quan trọng về bảo hiểm xã hội năm 2020

1. Thay thế Sổ bảo hiểm xã hội bằng thẻ bảo hiểm xã hội

Theo khoản 2 Điều 96 Luật Bảo hiểm xã hội, đến năm 2020, sổ bảo hiểm xã hội sẽ được thay thế bằng thẻ bảo hiểm xã hội.

Dù chỉ còn 03 tháng nữa là tới năm 2020, tuy nhiên hiện nay chưa có bất cứ thông tin nào về việc thay thế này.

2. Thay đổi cách tính lương hưu hàng tháng đối với lao động nam

Theo điểm a khoản 2 Điều 56, điểm a khoản 2 Điều 74 Luật Bảo hiểm xã hội:

Mức lương hưu hàng tháng của người lao động được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với số năm đóng bảo xã hội. Trong đó, với lao động nam nghỉ hưu vào năm 2020 thì được tính là 18 năm (nếu nghỉ vào năm 2018 được tính là 16 năm, năm 2019 được tính là 17 năm).

Đối với lao động nữ, cách tính lương hưu năm 2020 không có gì thay đổi so với hiện nay.

3. Thay đổi độ tuổi hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên

Theo điểm a khoản 1 Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014:

    Từ năm 2016, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động

    Từ năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở đi.

4. Hoàn thành việc xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý bảo hiểm xã hội

Theo khoản 2 Điều 9 Luật Bảo hiểm xã hội, đến năm 2020, sẽ hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý bảo hiểm xã hội trong phạm vi cả nước.

Được biết, hiện nay, Chính phủ đã giao Bảo hiểm xã hội Việt Nam trình Thủ tướng Đề án “Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về BHXH, bảo đảm tính kết nối, chia sẻ dữ liệu với các CSDL quốc gia có liên quan.

Năm 2019, ngành bảo hiểm đang tiếp tục cập nhật mã số, đồng bộ thông tin định danh người tham gia BHXH; quản lý dữ liệu quá trình thu, chi trả BHXH, thông tin đơn vị tham gia BHXH...

5. Thay đổi mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần

Theo điểm e khoản 1 Điều 62 Luật Bảo hiểm xã hội:

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ tiền lương này, nếu tham gia BHXH từ năm 2020 đến ngày 31/12/2024 thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Bài viết liên quan: Dịch vụ làm bảo hiểm xã hội 

Bình luận

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn