QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1505

XÁC NHẬN TỪ BÊN NGOÀI ĐỐI VỚI CUỘC KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN

ngày  15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước)

 

 
 

QUY ĐỊNH CHUNG

Cơ sở xây dựng

01.       Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, CMKTNN 200 - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính và ISSAI 1505 của INTOSAI Thông tin xác nhận từ bên ngoài.

Mục đích và phạm vi áp dụng

02.       Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước trong việc sử dụng các thủ tục xác nhận từ bên ngoài để thu thập bằng chứng kiểm toán phù hợp, tin cậy theo yêu cầu của CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính và CMKTNN 1500 - Bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính.

03.       Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối hợp công việc với kiểm toán viên nhà nước và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình kiểm toán.

Giải thích thuật ngữ

04.       Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

(i)               Xác nhận từ bên ngoài: Là bằng chứng kiểm toán thu thập được dưới dạng phản hồi bằng văn bản trực tiếp từ bên thứ ba (bên xác nhận) cho kiểm toán viên nhà nước dưới dạng văn bản, thư điện tử hoặc phương tiện khác;

(ii)             Yêu cầu xác nhận dạng khẳng định: Là đề nghị bên xác nhận phúc đáp trực tiếp cho kiểm toán viên nhà nước nêu rõ bên xác nhận đồng ý hoặc không đồng ý với thông tin cần xác nhận hoặc cung cấp thông tin yêu cầu xác nhận;

(iii)          Yêu cầu xác nhận dạng phủ định: Là đề nghị bên xác nhận phúc đáp trực tiếp cho kiểm toán viên nhà nước chỉ khi bên xác nhận không đồng ý với thông tin được nêu trong thư xác nhận;

(iv)          Phản hồi không đạt yêu cầu: Là bên xác nhận không phúc đáp hoặc không phúc đáp đầy đủ cho thư xác nhận dạng khẳng định, hoặc thư xác nhận bị trả lại;

(v)             Xác nhận có sự khác biệt: Là phản hồi cho thấy sự khác nhau giữa thông tin cần xác nhận, hoặc thông tin trong tài liệu của đơn vị và thông tin do bên xác nhận cung cấp.

Các thuật ngữ khác sử dụng trong Chuẩn mực này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Thủ tục xác nhận từ bên ngoài

05.       Bằng chứng kiểm toán được kiểm toán viên nhà nước thu thập trực tiếp từ các bên xác nhận có thể đáng tin cậy hơn bằng chứng được tạo ra trong nội bộ đơn vị được kiểm toán  theo quy định tại CMKTNN 1500 - Bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính.

06.       Các chuẩn mực kiểm toán nhà nước khác (ngoài CMKTNN 1500 - Bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính) thừa nhận thông tin xác nhận từ bên ngoài là nguồn bằng chứng kiểm toán quan trọng, như:

(i)               Đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đáng kể do gian lận hoặc nhầm lẫn, kiểm toán viên nhà nước phải thu thập bằng chứng kiểm toán dưới hình thức xác nhận từ bên ngoài có độ tin cậy cao để xử lý các rủi ro có sai sót trọng yếu theo quy định tại CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính;

(ii)             Đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ cơ sở dẫn liệu kiểm toán viên nhà nước có thể cần thay đổi nội dung thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng phù hợp và đáng tin cậy hơn hoặc để thu thập thêm các thông tin chứng thực bổ sung theo quy định tại CMKTNN 1240 - Trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước liên quan đến gian lận trong cuộc kiểm toán tài chính.

07.       Kiểm toán viên nhà nước phải duy trì kiểm soát đối với việc thực hiện thủ tục xác nhận từ bên ngoài, bao gồm:

(i)               Xác định thông tin cần xác nhận hoặc cần cung cấp;

(ii)             Lựa chọn bên xác nhận thích hợp;

(iii)          Thiết kế và gửi yêu cầu xác nhận.

Xác định thông tin cần được xác nhận hoặc yêu cầu cung cấp thông tin

08.       Kiểm toán viên nhà nước thực hiện thủ tục xác nhận từ bên ngoài khi cần xác nhận thông tin đã có hoặc thu thập thông tin. Thông tin đã có cần được xác nhận hoặc yêu cầu bên thứ ba xác nhận, cung cấp thường là thông tin liên quan tới số dư các tài khoản (công nợ, phải thu, phải trả, tạm ứng, các khoản vay,…); các điều khoản hợp đồng, các thỏa thuận hoặc các giao dịch giữa đơn vị được kiểm toán với các bên có liên quan (chi trả kinh phí, các khoản hỗ trợ, cấp phát, bàn giao tài sản,…); các vấn đề khác có liên quan.

Lựa chọn bên xác nhận thích hợp

09.       Khi lựa chọn bên xác nhận, nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán phù hợp, đáng tin cậy, kiểm toán viên nhà nước cần lựa chọn bên xác nhận mà kiểm toán viên nhà nước tin tưởng rằng họ có hiểu biết về các thông tin cần xác nhận.

Thiết kế và gửi yêu cầu xác nhận

10.       Hình thức, nội dung yêu cầu xác nhận có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ hồi đáp, độ tin cậy và nội dung của bằng chứng kiểm toán thu thập được, do đó khi lập yêu cầu xác nhận kiểm toán viên nhà nước cần xem xét các yếu tố sau:

(i)               Cơ sở dẫn liệu có liên quan;

(ii)             Các rủi ro có sai sót trọng yếu cụ thể đã được xác định, kể cả rủi ro do gian lận;

(iii)          Hình thức và cách trình bày yêu cầu xác nhận;

(iv)          Kinh nghiệm từ các cuộc kiểm toán trước;

(v)             Phương thức trao đổi thông tin (văn bản giấy, thư điện tử,..);

(vi)          Lãnh đạo đơn vị được kiểm toán chấp thuận hoặc khuyến khích bên xác nhận phúc đáp lại yêu cầu xác nhận của kiểm toán viên nhà nước;

(vii)        Khả năng bên xác nhận xác nhận hoặc cung cấp thông tin mà kiểm toán viên nhà nước yêu cầu;

(viii)      Tính chính xác của các thông tin có liên quan đến bên xác nhận như tên, địa chỉ,…

11.       Đối với yêu cầu xác nhận dạng khẳng định: Kiểm toán viên nhà nước có thể giảm thiểu rủi ro do người xác nhận đã xác nhận mà không xác minh (kiểm tra) thông tin bằng cách sử dụng thư xác nhận dạng khẳng định nhưng không ghi rõ số liệu hoặc các thông tin, đồng thời yêu cầu người xác nhận điền số liệu hoặc cung cấp thông tin.

12.       Kiểm toán viên nhà nước có thể gửi lại yêu cầu xác nhận khi chưa nhận được phản hồi cho yêu cầu xác nhận lần trước trong một khoảng thời gian hợp lý.

13.       Kiểm toán viên nhà nước có thể trao đổi với đơn vị được kiểm toán về yêu cầu xác nhận với bên thứ ba có liên quan. Trường hợp lãnh đạo đơn vị được kiểm toán không đồng ý để kiểm toán viên nhà nước gửi yêu cầu xác nhận thì kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu lý do, nguyên nhân của sự không đồng ý; xem xét có tồn tại rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn.

14.       Nếu kiểm toán viên nhà nước kết luận rằng lý do lãnh đạo đơn vị được kiểm toán đưa ra là không hợp lý và không thể thu thập được bằng chứng kiểm toán phù hợp, đáng tin cậy từ các thủ tục kiểm toán thay thế thì kiểm toán viên nhà nước phải xác định ảnh hưởng của vấn đề này đối với cuộc kiểm toán và việc đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần theo quy định tại CMKTNN 1705 - Ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán tài chính.

Kết quả của các thủ tục xác nhận từ bên ngoài

Độ tin cậy của các thông tin phản hồi yêu cầu xác nhận

15.       Nếu kiểm toán viên nhà nước nhận thấy có các yếu tố làm phát sinh nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin phản hồi yêu cầu xác nhận, kiểm toán viên nhà nước phải thu thập thêm bằng chứng kiểm toán để giải quyết các nghi ngờ đó. Các yếu tố có thể làm phát sinh nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin phản hồi bao gồm:

(i)           Kiểm toán viên nhà nước không trực tiếp nhận thư phúc đáp;

(ii)        Thư phúc đáp có thể không do bên xác nhận gửi;

(iii)      Người phúc đáp không có quyền phúc đáp;

(iv)      Người phúc đáp không phản hồi bằng văn bản.

16.       Tài liệu, thông tin được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán được thu thập từ các nguồn độc lập ngoài đơn vị có thể không đáng tin cậy nếu nguồn gốc tài liệu, thông tin đó không rõ ràng. Tất cả các phản hồi bằng văn bản, thư điện tử hoặc phương tiện khác đều có thể chứa đựng rủi ro do bị che đậy, sửa đổi hoặc gian lận.

17.       Khi kiểm toán viên nhà nước nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin, tài liệu được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước cần điều chỉnh hoặc bổ sung các thủ tục kiểm toán cần thiết để giải quyết nghi ngờ; đồng thời xem xét ảnh hưởng (nếu có) của các vấn đề này đến các khía cạnh khác của cuộc kiểm toán.

18.       Phản hồi bằng lời cho yêu cầu xác nhận không thỏa mãn định nghĩa về thông tin xác nhận từ bên ngoài. Kiểm toán viên nhà nước cần yêu cầu bên xác nhận phản hồi trực tiếp bằng văn bản. Trường hợp không nhận được phản hồi bằng văn bản, kiểm toán viên nhà nước phải thu thập các bằng chứng khác để bổ sung thông tin phản hồi bằng lời.

Phản hồi không đáng tin cậy

19.       Nếu kiểm toán viên nhà nước xác định rằng thông tin phản hồi yêu cầu xác nhận không đáng tin cậy, kiểm toán viên nhà nước phải xem xét các ảnh hưởng đến đánh giá về rủi ro có sai sót trọng yếu liên quan, kể cả rủi ro do gian lận và ảnh hưởng đến nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán khác. Kiểm toán viên nhà nước thực hiện rà soát lại kết quả đánh giá rủi ro theo quy định tại CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính.

Không phản hồi

20.       Trong trường hợp không nhận được phản hồi, kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện các thủ tục kiểm toán thay thế để thu thập bằng chứng kiểm toán phù hợp và đáng tin cậy. Nội dung, phạm vi của các thủ tục kiểm toán thay thế phụ thuộc vào tài khoản, cơ sở dẫn liệu được xem xét.

21.       Việc yêu cầu xác nhận không được phản hồi có thể cho thấy có rủi ro có sai sót trọng yếu chưa được xác định trước đó. Kiểm toán viên nhà nước thực hiện rà soát lại kết quả đánh giá rủi ro theo quy định tại CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính.

Trường hợp yêu cầu xác nhận dạng khẳng định là không thể thiếu để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp

22.       Trường hợp kiểm toán viên nhà nước xác định rằng yêu cầu xác nhận dạng khẳng định là không thể thiếu để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp (chẳng hạn như chứng thực cho các xác nhận của lãnh đạo đơn vị được kiểm toán, lãnh đạo đơn vị được kiểm toán đã khống chế kiểm soát hoặc sự thông đồng làm cho kiểm toán viên nhà nước không thể tin tưởng vào bằng chứng thu thập được từ nội bộ đơn vị được kiểm toán) mà kiểm toán viên nhà nước không nhận được phúc đáp thì kiểm toán viên nhà nước phải xác định ảnh hưởng của vấn đề này đối với cuộc kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần theo quy định tại CMKTNN 1705 - Ý kiến kiểm toán không phải  ý kiến chấp nhận toàn phần trong báo cáo kiểm toán tài chính.

Phản hồi có sự khác biệt với thông tin cần xác nhận

23.       Trường hợp nhận được phản hồi có sự khác biệt, kiểm toán viên nhà nước phải kiểm tra sự khác biệt để xác định liệu các khác biệt đó có phải là dấu hiệu của sai sót không. Các khác biệt trong thư phúc đáp có thể chỉ ra sai sót hoặc sai sót tiềm tàng trong báo cáo tài chính. Trường hợp này, kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá sai sót đó có phải là biểu hiện của gian lận không theo quy định tại CMKTNN 1240 - Trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước liên quan đến gian lận trong cuộc kiểm toán tài chính. Các khác biệt cũng giúp kiểm toán viên nhà nước phân biệt chất lượng của các phản hồi từ các bên xác nhận tương tự hoặc cho các tài khoản tương tự. Các khác biệt cũng có thể cho thấy các khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ của đơn vị đối với việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Một số khác biệt nhưng không cho thấy có sai sót là do yếu tố thời gian, định lượng, hoặc lỗi ghi chép trong các thủ tục xác nhận từ bên ngoài.

Yêu cầu xác nhận dạng phủ định

24.       Yêu cầu xác nhận dạng phủ định cung cấp bằng chứng kiểm toán ít thuyết phục hơn yêu cầu xác nhận dạng khẳng định. Việc không nhận được phản hồi cho yêu cầu xác nhận dạng phủ định không phải là bằng chứng cho tính chính xác của thông tin cần xác nhận đã được xác minh hoặc bên xác nhận đã nhận được yêu cầu xác nhận. Ngoài ra, bên xác nhận có thể sẵn sàng phúc đáp hơn để bày tỏ sự không đồng ý với nội dung yêu cầu xác nhận khi thông tin cần xác nhận không có lợi cho họ và ngược lại sẽ không xác nhận khi thông tin có lợi cho họ, chẳng hạn như chủ tài khoản tiền gửi ngân hàng có thể sẵn lòng phúc đáp hơn nếu họ cho rằng số dư trong tài khoản của họ bị ghi thấp hơn trong thư xác nhận, nhưng có thể không muốn phúc đáp nếu số dư của họ được ghi cao hơn trong thư xác nhận.

25.       Kiểm toán viên nhà nước không được sử dụng yêu cầu xác nhận dạng phủ định như là thử nghiệm cơ bản duy nhất nhằm xử lý rủi ro có sai sót trọng yếu đã đánh giá ở cấp cơ sở dẫn liệu, trừ khi tồn tại tất cả các trường hợp sau đây:

(i)               Kiểm toán viên nhà nước đã đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu là thấp và đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về tính hữu hiệu của các hoạt động kiểm soát có liên quan đến cơ sở dẫn liệu;

(ii)             Tổng thể các phần tử cần xác nhận qua yêu cầu xác nhận dạng phủ định bao gồm một số lượng lớn các số dư tài khoản, giao dịch nhỏ, hoặc điều kiện đồng nhất;

(iii)          Tỷ lệ khác biệt dự kiến rất thấp;

(iv)          Kiểm toán viên nhà nước không biết về các trường hợp hoặc điều kiện khiến người nhận yêu cầu xác nhận dạng phủ định không quan tâm đến yêu cầu xác nhận.

Đánh giá bằng chứng thu thập được

26.       Khi đánh giá kết quả của từng yêu cầu xác nhận từ bên ngoài, kiểm toán viên nhà nước có thể phân loại các kết quả như sau:

(i)               Phản hồi của bên xác nhận thích hợp cho thấy sự đồng ý với thông tin được cung cấp trong yêu cầu xác nhận, hoặc cung cấp các thông tin được yêu cầu xác nhận mà không có khác biệt;

(ii)             Phản hồi được cho là không đáng tin cậy;

(iii)          Phản hồi cho thấy có sự khác biệt;

(iv)          Không phản hồi.

27.       Kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá liệu kết quả của các thủ tục xác nhận từ bên ngoài đã cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp và đáng tin cậy chưa, hay cần phải thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán khác.

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán

28.       Kiểm toán viên nhà nước lập và lưu trữ trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán các tài liệu chứng minh cho việc xác nhận từ bên ngoài theo quy định tại CMKTNN 1230 - Tài liệu, hồ sơ kiểm toán của cuộc kiểm toán tài chính.


mang-xa-hoi-facebook mang xa hoi twitter

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn