QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1450

 ĐÁNH GIÁ CÁC SAI SÓT PHÁT HIỆN

TRONG QUÁ TRÌNH KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN

ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước)

 

 
 

 

 

 

QUY ĐỊNH CHUNG

Cơ sở xây dựng

01.       Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, CMKTNN 200 - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính và ISSAI 1450 của INTOSAI - Đánh giá các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán.  

Mục đích và phạm vi áp dụng

02.       Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước trong việc đánh giá ảnh hưởng của các sai sót đã được phát hiện trong quá trình thực hiện kiểm toán tài chính, bao gồm cả các sai sót không được điều chỉnh (nếu có) đối với báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính.

03.       Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối hợp công việc với kiểm toán viên nhà nước và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình kiểm toán.

Giải thích thuật ngữ

04.       Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

(i)               Sai sót: Là sự khác biệt giữa giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của một khoản mục trên báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính với giá trị, cách phân loại, trình bày hoặc thuyết minh của khoản mục đó theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính, thông tin tài chính được áp dụng. Sai sót có thể phát sinh do nhầm lẫn hoặc gian lận.

Sai sót có thể phát sinh từ:

·          Việc thu thập hoặc xử lý dữ liệu để lập báo cáo tài chính hoặc trình bày thông tin tài chính không chính xác;

·          Bỏ sót số liệu hoặc thuyết minh;

·          Ước tính kế toán không đúng do bỏ sót hoặc hiểu sai;

·          Xét đoán của đơn vị được kiểm toán liên quan đến các ước tính kế toán mà kiểm toán viên nhà nước cho là không hợp lý hoặc việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán mà kiểm toán viên nhà nước cho là không phù hợp.

(ii)             Sai sót thực tế: Là các sai sót đã xảy ra và được xác định một cách chắc chắn;

(iii)          Sai sót xét đoán: Là các chênh lệch phát sinh từ việc xét đoán của đơn vị được kiểm toán liên quan đến các ước tính kế toán mà kiểm toán viên nhà nước cho là không hợp lý, việc lựa chọn hoặc áp dụng các chính sách kế toán mà kiểm toán viên nhà nước cho rằng không phù hợp;

(iv)          Sai sót dự tính: Là những ước tính của kiểm toán viên nhà nước về các sai sót trong tổng thể, liên quan đến việc suy rộng các sai sót phát hiện trong mẫu kiểm toán cho toàn bộ tổng thể.

Các thuật ngữ khác sử dụng trong Chuẩn mực này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Tổng hợp các sai sót đã được phát hiện

05.       Kiểm toán viên nhà nước phải tổng hợp tất cả các sai sót đã được phát hiện trong quá trình kiểm toán, trừ những sai sót không đáng kể.

06.       Kiểm toán viên nhà nước cần chỉ ra ngưỡng sai sót không đáng kể, đó là mức giá trị cụ thể mà sai sót dưới mức đó được coi là sai sót không đáng kể và tổng hợp các sai sót đó không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính được kiểm toán. Cụm từ “không đáng kể” không phải là cách gọi khác của thuật ngữ “không trọng yếu”. Các vấn đề được coi là “không đáng kể” có sự khác biệt hoàn toàn về mức độ ảnh hưởng (độ lớn) so với tính trọng yếu quy định tại CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trong yếu kiểm toán trong kiểm toán tài chính và những vấn đề đó không gây ra hậu quả đáng kể dù xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, dù đánh giá về quy mô, bản chất hoặc trong các tình huống cụ thể. Khi có bất kỳ sự không chắc chắn nào về tính “không đáng kể” của một vấn đề, thì vấn đề đó không còn được coi là không đáng kể.

07.       Để hỗ trợ cho việc đánh giá ảnh hưởng của các sai sót trong quá trình kiểm toán, trước khi trao đổi các sai sót với đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước cần phải phân biệt rõ các sai sót thực tế, sai sót xét đoán và sai sót dự tính.

Xem xét các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán

08.       Kiểm toán viên nhà nước phải xác định sự cần thiết của việc sửa đổi kế hoạch kiểm toán tổng thể và kế hoạch kiểm toán chi tiết nếu:

(i)               Bản chất của các sai sót đã được phát hiện và tình huống phát sinh các sai sót đó cho thấy có thể tồn tại các sai sót khác mà khi tổng hợp lại có thể là trọng yếu; hoặc.

(ii)             Tổng hợp các sai sót đã được phát hiện trong quá trình thực hiện kiểm toán gần đạt tới mức trọng yếu theo quy định của CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trong yếu kiểm toán trong kiểm toán tài chính.

09.       Sai sót có thể không xảy ra một cách độc lập mà có thể có những sai sót cùng tồn tại hoặc một sai sót dẫn đến sai sót khác, như sai sót về doanh thu dẫn đến sai sót về thu nhập, sai sót về thuế,...

10.       Nếu tổng hợp các sai sót phát hiện trong quá trình thực hiện kiểm toán gần đạt mức trọng yếu theo quy định của CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trong yếu kiểm toán trong kiểm toán tài chính, thì có thể có rủi ro cao hơn mức độ chấp nhận được, là do ảnh hưởng của các sai sót không được phát hiện khi cộng gộp vào với các sai sót đã phát hiện và được tổng hợp trong quá trình thực hiện kiểm toán có thể vượt mức trọng yếu. Các sai sót không được phát hiện có thể tồn tại do rủi ro lấy mẫu và rủi ro ngoài lấy mẫu.

11.       Nếu theo yêu cầu của kiểm toán viên nhà nước, đơn vị được kiểm toán đã thực hiện kiểm tra lại một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh và đồng ý với các phát hiện kiểm toán, thì kiểm toán viên nhà nước có thể xem xét thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung để đánh giá khả năng có thể có các sai sót khác nếu thấy cần thiết. Kiểm toán viên nhà nước cần yêu cầu đơn vị được kiểm toán kiểm tra lại các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh để hiểu rõ nguyên nhân của các sai sót mà kiểm toán viên nhà nước phát hiện được và thực hiện các thủ tục để xác định giá trị của các sai sót thực tế trong các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh và thực hiện các điều chỉnh cần thiết đối với báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính.

Trao đổi thông tin và điều chỉnh sai sót

12.       Kiểm toán viên nhà nước phải trao đổi kịp thời về tất cả các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán với đơn vị được kiểm toán. Việc trao đổi thông tin giữa kiểm toán viên nhà nước với đơn vị được kiểm toán phải tuân thủ đúng quy định của Kiểm toán nhà nước.

13.       Việc trao đổi kịp thời về các sai sót với đơn vị được kiểm toán là quan trọng vì thông qua trao đổi, đơn vị được kiểm toán sẽ cung cấp thêm thông tin giải trình về các sai sót, qua đó giúp kiểm toán viên nhà nước củng cố bằng chứng kiểm toán.

14.       Nếu đơn vị được kiểm toán không đồng ý với các sai sót được phát hiện, thì kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu nguyên nhân và xem xét những ý kiến của đơn vị được kiểm toán khi đánh giá việc có thể có sai sót trọng yếu, xét trên phương diện tổng thể của báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính cả định lượng và định tính.

Đánh giá ảnh hưởng của các sai sót đã phát hiện để đưa ra điều chỉnh

15.       Trước khi đánh giá ảnh hưởng của các sai sót đã phát hiện, kiểm toán viên nhà nước phải xem xét lại tính phù hợp của mức trọng yếu đã xác định với tình hình thực tế của đơn vị được kiểm toán theo quy định tại CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trong yếu kiểm toán trong kiểm toán tài chính.

16.       Khi kiểm toán viên nhà nước đã thu thập thông tin xác định là cần thiết phải điều chỉnh lại mức trọng yếu theo quy định tại CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trong yếu kiểm toán trong kiểm toán tài chính và mức trọng yếu xác định lại thấp hơn so với mức trọng yếu trước đó, thì kiểm toán viên nhà nước cần xem xét lại mức trọng yếu thực hiện và sự phù hợp về nội dung, lịch trình, phạm vi các thủ tục kiểm toán tiếp theo nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm cơ sở cho ý kiến kiểm toán.

17.       Kiểm toán viên nhà nước phải xác định các sai sót có trọng yếu hay không khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại. Để đạt được điều này, kiểm toán viên nhà nước phải xem xét:

(i)               Quy mô và bản chất của các sai sót trong mối quan hệ với từng nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh và mối quan hệ với tổng thể báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính cũng như các tình huống cụ thể phát sinh sai sót;

(ii)             Ảnh hưởng của các sai sót phát hiện không được đơn vị điều chỉnh của kỳ trước đối với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh liên quan và đối với tổng thể báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính.

18.       Kiểm toán viên nhà nước phải xác định ảnh hưởng của từng sai sót riêng lẻ cần được đánh giá trong mối quan hệ với các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh liên quan và xem xét, so sánh các sai sót với mức trọng yếu đã điều chỉnh áp dụng cho các nhóm giao dịch, số dư tài khoản hoặc thông tin thuyết minh đó.

19.       Nếu một sai sót riêng lẻ được đánh giá là trọng yếu, thì không được bù trừ với các sai sót khác, chẳng hạn nếu doanh thu bị phản ánh cao hơn doanh thu thực tế và sai sót này vượt quá mức trọng yếu thì báo cáo tài chính bị coi là có sai sót trọng yếu ngay cả khi ảnh hưởng của sai sót của khoản mục doanh thu được bù trừ bởi sai sót do ghi tăng chi phí tương ứng và không làm sai sót về lợi nhuận. Việc bù trừ các sai sót không trọng yếu trong cùng một tài khoản hoặc loại giao dịch có thể là hợp lý, tuy nhiên cần phải xem xét rủi ro về các sai sót không được phát hiện trước khi kết luận rằng các sai sót sau khi được bù trừ có trọng yếu hay không. Khi phát hiện một số các sai sót không trọng yếu trong cùng một số dư tài khoản hay cùng một nhóm giao dịch thì kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá lại rủi ro có sai sót trọng yếu đối với số dư tài khoản hoặc nhóm giao dịch đó.

20.       Trường hợp phát hiện các sai sót do phân loại các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính, thì kiểm toán viên nhà nước cần phải quan tâm đến cả định tính và định lượng của sai sót đó và đánh giá tính trọng yếu của sai sót đó.

21.       Trong một số trường hợp, các sai sót, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại vẫn được coi là trọng yếu mặc dù giá trị của các sai sót này có thể thấp hơn mức trọng yếu áp dụng cho tổng thể báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính, bao gồm mức độ mà sai sót:

(i)               Ảnh hưởng đến việc tuân thủ pháp luật;

(ii)             Ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều khoản hoặc các yêu cầu khác của hợp đồng kinh tế;

(iii)          Liên quan đến việc lựa chọn sai hoặc áp dụng chính sách kế toán tuy không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính kỳ hiện tại nhưng có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính trong tương lai;

(iv)          Che giấu những thay đổi về thu nhập hoặc các xu hướng khác, đặc biệt trong điều kiện kinh tế chung hoặc của ngành;

(v)             Ảnh hưởng đến các hệ số, tỷ suất phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động của đơn vị;

(vi)          Ảnh hưởng đến thông tin trình bày trong báo cáo tài chính bộ phận;

(vii)        Ảnh hưởng làm tăng chi phí quản lý;

(viii)     Những thông tin mà kiểm toán viên nhà nước cho là ảnh hưởng đáng kể đối với người sử dụng báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính;

(ix)          Ảnh hưởng đến các khoản mục bên liên quan đến những đối tượng nhất định;

(x)             Trình bày thiếu các thông tin mặc dù không phải yêu cầu bắt buộc theo quy định trong khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính, nhưng theo đánh giá của kiểm toán viên nhà nước các thông tin này là quan trọng đối với hiểu biết của người sử dụng báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh hoặc lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp; hoặc

(xi)          Ảnh hưởng đến các thông tin khác trình bày trong tài liệu có báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính đã được kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính.

22.       Kiểm toán viên nhà nước phải xem xét ảnh hưởng của một sai sót do hoặc có thể do gian lận đến các khía cạnh khác của cuộc kiểm toán (như là tính tin cậy của các giải trình của đơn vị được kiểm toán) ngay cả trong trường hợp mức độ sai sót này là không trọng yếu đối với báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính theo yêu cầu của CMKTNN 1240 - Trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước liên quan đến gian lận trong cuộc kiểm toán tài chính.

23.       Tổng hợp các sai sót không trọng yếu hoặc không đáng kể và không được điều chỉnh kỳ trước có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính kỳ hiện tại. Kiểm toán viên nhà nước có thể có các cách tiếp cận khác nhau để đánh giá ảnh hưởng của các sai sót chưa được điều chỉnh trong kỳ trước đối với báo cáo tài chính hoặc thông tin tài chính kỳ hiện tại. Kiểm toán viên nhà nước cần áp dụng cùng một phương pháp để đánh giá sai sót phát hiện để đảm bảo sự nhất quán qua các kỳ đối với một đơn vị được kiểm toán.

Thông báo phát hiện kiểm toán và đơn vị được kiểm toán giải trình bằng văn bản

24.       Kiểm toán viên nhà nước phải thông báo với đơn vị được kiểm toán về từng sai sót và ảnh hưởng của các sai sót này khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại đối với ý kiến kiểm toán đồng thời yêu cầu đơn vị kiểm toán giải trình các sai sót đã phát hiện. Việc yêu cầu đơn vị được kiểm toán giải trình và việc giải trình các sai sót phải thực hiện bằng văn bản và phải tuân thủ theo đúng quy định của Kiểm toán nhà nước.

25.       Trong một số trường hợp, đơn vị được kiểm toán có thể không đồng ý với kiểm toán viên nhà nước về các sai sót được phát hiện trong quá trình kiểm toán, thì đơn vị được kiểm toán có thể đưa ra ý kiến trong bản giải trình về vấn đề này và nêu rõ lý do. Bảng tổng hợp các sai sót mà đơn vị không đồng ý phải được trình bày hoặc đính kèm trong Bản giải trình đó. Việc thu thập bản giải trình của đơn vị được kiểm toán không làm giảm trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước liên quan đến việc đánh giá sai sót đã phát hiện.

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán 

26.        Kiểm toán viên nhà nước lập và lưu trữ trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán theo quy định tại CMKTNN 1230 - Tài liệu, hồ sơ kiểm toán của cuộc kiểm toán tài chính, theo các quy định của KTNN; đồng thời lưu ý lập và lưu trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán những vấn đề sau:

(i)               Mức giá trị cụ thể mà các sai sót dưới mức này được coi là sai sót không đáng kể;

(ii)            Tập hợp tất cả các sai sót phát hiện trong quá trình kiểm toán;

(iii)          Kết luận của kiểm toán viên nhà nước về mức độ trọng yếu của các sai sót và cơ sở cho các kết luận của kiểm toán viên nhà nước.


mang-xa-hoi-facebook mang xa hoi twitter

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn