QUY ĐỊNH CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC SỐ 1402

CÁC YẾU TỐ CẦN XEM XÉT KHI KIỂM TOÁN ĐƠN VỊ CÓ SỬ DỤNG

DỊCH VỤ BÊN NGOÀI TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2016/QĐ-KTNN

Ngày 15 tháng 7 năm 2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước)

 

 

QUY ĐỊNH CHUNG

Cơ sở xây dựng

01.       Chuẩn mực này được xây dựng và phát triển dựa trên cơ sở CMKTNN 100 - Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, CMKTNN 200 - Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán tài chính và ISSAI 1402 của INTOSAI - Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài.

Mục đích và phạm vi áp dụng

02.       Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên nhà nước để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp khi kiểm toán tài chính đối với đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài. Đặc biệt, Chuẩn mực này còn hướng dẫn kiểm toán viên nhà nước áp dụng CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính và CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính, trong việc tìm hiểu về đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài và kiểm soát nội bộ liên quan đến cuộc kiểm toán để phát hiện, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu và thiết kế, thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo đối với các rủi ro này.

03.       Nhiều đơn vị thuê các tổ chức cung cấp dịch vụ để thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ cụ thể hoặc để thay thế hoàn toàn cho một số bộ phận hay chức năng của đơn vị (cung cấp các phần mềm ứng dụng và thiết bị công nghệ để đơn vị xử lý giao dịch tài chính và kinh doanh; tín thác đầu tư; dịch vụ quản lý, bảo quản, cầm cố tài sản; tư vấn quản lý dự án đầu tư, dịch vụ kê khai thuế, hải quan; ghi sổ kế toán…). Tuy nhiên, không phải tất cả các dịch vụ đều liên quan đến cuộc kiểm toán, chỉ những dịch vụ và các kiểm soát đối với dịch vụ là một phần trong hệ thống thông tin của đơn vị liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính và thông tin tài chính mới được coi là có liên quan đến cuộc kiểm toán và thuộc phạm vi của Chuẩn mực này.Việc thuê dịch vụ bên ngoài để lập báo cáo tài chính không làm giảm bớt trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán.

04.       Chuẩn mực này không áp dụng cho các trường hợp sau: Dịch vụ do các tổ chức tài chính cung cấp mà các dịch vụ này chỉ giới hạn trong việc xử lý các giao dịch cụ thể đã được đơn vị phê duyệt cho một tài khoản của đơn vị tại tổ chức tài chính như việc xử lý các giao dịch kiểm tra tài khoản do một ngân hàng thực hiện hoặc xử lý các giao dịch chứng khoán do một tổ chức môi giới thực hiện; Các giao dịch phát sinh từ các lợi ích tài chính trong các đơn vị khác như các công ty hợp danh, các tập đoàn và công ty liên doanh, liên kết.

05.       Kiểm toán viên nhà nước phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này trong quá trình thực hiện kiểm toán. Đơn vị được kiểm toán, các bên có liên quan và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối hợp công việc với kiểm toán viên nhà nước và giải quyết các mối quan hệ trong quá trình kiểm toán.

Giải thích thuật ngữ

06.       Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

(i)               Tổ chức cung cấp dịch vụ: Là bên thứ ba (hoặc một bộ phận của bên thứ ba) cung cấp dịch vụ cho đơn vị được kiểm toán mà các dịch vụ này là một phần của hệ thống thông tin của đơn vị được kiểm toán có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính và thông tin tài chính.

(ii)             Báo cáo về việc mô tả và thiết kế các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ: Là Báo cáo của tổ chức cung cấp dịch vụ mô tả về hệ thống, các mục tiêu kiểm soát và các kiểm soát có liên quan của tổ chức, việc thiết kế và thực hiện các kiểm soát đó.

(iii)          Báo cáo về việc mô tả, thiết kế và tính hữu hiệu của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ: Là Báo cáo của tổ chức cung cấp dịch vụ mô tả về hệ thống, các mục tiêu kiểm soát và các kiểm soát có liên quan của tổ chức, việc thiết kế và thực hiện các kiểm soát đó, tính hữu hiệu của các kiểm soát.

(iv)          Các kiểm soát bổ sung của đơn vị được kiểm toán: Là các kiểm soát mà khi thiết kế dịch vụ, tổ chức cung cấp dịch vụ cho rằng đơn vị được kiểm toán sẽ thực hiện để đạt được mục tiêu kiểm soát, và các kiểm soát này được xác định trong phần mô tả về hệ thống kiểm soát.

(v)             Tổ chức thầu phụ dịch vụ (sau đây gọi là “tổ chức thầu phụ”): Là một tổ chức cung cấp dịch vụ được một tổ chức cung cấp dịch vụ khác thuê để thực hiện một số dịch vụ cho đơn vị được kiểm toán mà những dịch vụ này là một phần của hệ thống thông tin của đơn vị được kiểm toán có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính, thông tin tài chính.

Các thuật ngữ khác sử dụng trong Chuẩn mực này được định nghĩa như trong các chuẩn mực kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban hành.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Tìm hiểu về các dịch vụ cung cấp cho đơn vị được kiểm toán

07.       Khi tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị theo quy định tại CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính, kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu về việc đơn vị này sử dụng các dịch vụ được cung cấp như thế nào trong các hoạt động của mình, bao gồm:

(i)               Bản chất và tầm quan trọng của các dịch vụ được cung cấp, kể cả ảnh hưởng của các dịch vụ đó đối với kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán;

(ii)             Nội dung và tính trọng yếu của các giao dịch được xử lý, các tài khoản hoặc các quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính và thông tin tài chính chịu ảnh hưởng bởi tổ chức cung cấp dịch vụ;

(iii)          Mức độ tương tác giữa các hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ và các hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Mức độ tương tác là mức độ mà đơn vị được kiểm toán có thể thực hiện và quyết định thực hiện các kiểm soát hữu hiệu đối với công việc mà tổ chức cung cấp dịch vụ thực hiện. Tầm quan trọng của các kiểm soát của tổ chức cung cấp dịch vụ đối với đơn vị được kiểm toán phụ thuộc vào mức độ tương tác giữa các hoạt động của tổ chức đó và các hoạt động của đơn vị được kiểm toán;

(iv)          Bản chất của mối quan hệ giữa đơn vị được kiểm toán và tổ chức cung cấp dịch vụ, bao gồm các điều khoản hợp đồng có liên quan đến các hoạt động mà tổ chức cung cấp dịch vụ thực hiện như: Những thông tin phải được cung cấp cho đơn vị được kiểm toán; trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ; trách nhiệm cung cấp Báo cáo về việc mô tả và thiết kế các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ và Báo cáo về việc mô tả, thiết kế và tính hữu hiệu của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ.

08.       Khi tìm hiểu về kiểm soát nội bộ liên quan đến cuộc kiểm toán theo quy định tại CMKTNN 1315 - Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị trong kiểm toán tài chính, kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện một số thủ tục như: kiểm tra, so sánh dữ liệu; tính toán lại hoặc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để đánh giá việc thiết kế và thực hiện các kiểm soát của đơn vị được kiểm toán đối với các dịch vụ được cung cấp.

09.       Kiểm toán viên nhà nước phải hiểu biết đầy đủ về bản chất và tầm quan trọng của các dịch vụ được tổ chức cung cấp dịch vụ cung cấp và ảnh hưởng của các dịch vụ đó đối với kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán có liên quan đến cuộc kiểm toán, nhằm tạo cơ sở cho việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu.

10.       Nếu kiểm toán viên nhà nước không thể thu thập đầy đủ những hiểu biết từ đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước phải tìm hiểu thêm bằng cách thực hiện một hoặc một số thủ tục như sau:

(i)               Thu thập báo cáo về việc mô tả và thiết kế các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc báo cáo về việc mô tả, thiết kế và tính hữu hiệu của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ;

(ii)             Thông qua đơn vị được kiểm toán để liên hệ với tổ chức cung cấp dịch vụ nhằm thu thập thêm một số thông tin cụ thể bằng cách gửi yêu cầu xác nhận, đối chiếu, kiểm tra, yêu cầu tổ chức cung cấp dịch vụ gửi báo cáo;

(iii)          Thông qua đơn vị được kiểm toán để đến tổ chức cung cấp dịch vụ và thực hiện các thủ tục nhằm thu thập thông tin cần thiết về các kiểm soát liên quan tại tổ chức cung cấp dịch vụ. Trong trường hợp không có sẵn báo cáo về các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ thì việc đi thực địa tại tổ chức cung cấp dịch vụ có thể là thủ tục hữu hiệu nhất để kiểm toán viên nhà nước hiểu được về các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ.

11.       Khi quyết định lựa chọn thực hiện riêng lẻ hay kết hợp các thủ tục để thu thập thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu liên quan đến việc sử dụng dịch vụ, kiểm toán viên nhà nước cần xem xét:

(i)               Quy mô của đơn vị được kiểm toán và của tổ chức cung cấp dịch vụ;

(ii)             Tính phức tạp của các dịch vụ được cung cấp;

(iii)          Khả năng các thủ tục cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp;

(iv)          Bản chất của mối quan hệ giữa đơn vị được kiểm toán và tổ chức cung cấp dịch vụ.

(v)             Chất lượng và tính hữu ích của dịch vụ được cung cấp.

12.       Trường hợp tổ chức cung cấp dịch vụ thuê một tổ chức thầu phụ để cung cấp một số dịch vụ cho đơn vị được kiểm toán thì kiểm toán viên nhà nước phải xem xét các kiểm soát liên quan tại tổ chức cung cấp dịch vụ cũng như tại tổ chức thầu phụ. Căn cứ vào mức độ tương tác, nội dung, tính trọng yếu của các giao dịch được tổ chức thầu phụ thực hiện, kiểm toán viên nhà nước xem xét, quan tâm đến các kiểm soát của tổ chức cung cấp dịch vụ và tổ chức thầu phụ đối với các kiểm soát của đơn vị được kiểm toán.

Xử lý rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá

Thử nghiệm cơ bản

13.       Để xử lý rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá theo quy định tại CMKTNN 1330 - Biện pháp xử lý rủi ro kiểm toán trong kiểm toán tài chính, kiểm toán viên nhà nước phải xác định khả năng thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chính, thông tin tài chính có liên quan từ các tài liệu kế toán của đơn vị được kiểm toán. Nếu không thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp, kiểm toán viên nhà nước phải thực hiện các thủ tục kiểm toán sau:

(i)               Tiếp cận, kiểm tra trực tiếp các tài liệu, báo cáo, sổ kế toán do tổ chức cung cấp dịch vụ lưu giữ khi tổ chức này thực hiện một số phần việc quan trọng và là một phần trong hệ thống thông tin của đơn vị liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Trường hợp đơn vị được kiểm toán thuê dịch vụ bên ngoài để thực hiện một phần hoặc toàn bộ chức năng tài chính của đơn vị và phần lớn bằng chứng kiểm toán tập trung ở tổ chức cung cấp dịch vụ, kiểm toán viên nhà nước thông qua đơn vị được kiểm toán để thực hiện các thử nghiệm cơ bản tại tổ chức cung cấp dịch vụ;

(ii)             Thu thập xác nhận về các số dư và giao dịch từ tổ chức cung cấp dịch vụ để chứng thực rằng số liệu trong sổ kế toán của đơn vị được kiểm toán có thể cung cấp bằng chứng kiểm toán đáng tin cậy về sự tồn tại của các giao dịch và các tài sản liên quan. Trường hợp nếu đơn vị được kiểm toán không lưu giữ độc lập sổ kế toán, thông tin thu thập được từ việc xác nhận với tổ chức cung cấp dịch vụ không cung cấp bằng chứng kiểm toán đáng tin cậy. Khi đó kiểm toán viên nhà nước cần tìm nguồn bằng chứng độc lập thay thế;

(iii)          Thực hiện các thủ tục phân tích đối với các tài liệu, thông tin mà đơn vị được kiểm toán lưu giữ, hoặc đối với các báo cáo nhận được từ tổ chức cung cấp dịch vụ.

Thử nghiệm kiểm soát

14.       Khi đánh giá rủi ro, nếu kiểm toán viên nhà nước kỳ vọng rằng các kiểm soát của tổ chức cung cấp dịch vụ là hữu hiệu hoặc nếu việc thực hiện các thử nghiệm cơ bản không thể cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp ở cấp độ cơ sở dẫn liệu thì kiểm toán viên nhà nước phải thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để thu thập bằng chứng kiểm toán về tính hữu hiệu của hoạt động kiểm soát bằng cách liên hệ với tổ chức cung cấp dịch vụ thông qua đơn vị được kiểm toán để thực hiện một hoặc một số thủ tục sau:

(i)               Thu thập báo cáo về việc mô tả, thiết kế và tính hữu hiệu của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ;

(ii)             Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát thích hợp tại tổ chức cung cấp dịch vụ.

15.       Nếu kiểm toán viên nhà nước sử dụng báo cáo về việc mô tả, thiết kế và tính hữu hiệu của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ làm bằng chứng kiểm toán về tính hữu hiệu của các kiểm soát của tổ chức cung cấp dịch vụ, kiểm toán viên nhà nước phải xác định khả năng báo cáo đó cung cấp bằng chứng kiểm toán thích hợp về tính hữu hiệu của các kiểm soát để hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro, bằng cách:

(i)               Đánh giá sự phù hợp của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ đối với mục tiêu kiểm toán;

(ii)             Xác định tính phù hợp, tính hiện hữu và tính hữu hiệu của các kiểm soát bổ sung của đơn vị được kiểm toán;

(iii)          Đánh giá sự phù hợp của các thử nghiệm kiểm soát của tổ chức cung cấp dịch vụ và kết quả của các thử nghiệm đó với cơ sở dẫn liệu trong báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán và khả năng cung cấp bằng chứng kiểm toán thích hợp để hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro.

16.       Nếu kiểm toán viên nhà nước cho rằng báo cáo về việc mô tả, thiết kế và tính hữu hiệu của các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ không cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp (chẳng hạn: nếu báo cáo không mô tả các thử nghiệm kiểm soát và kết quả thử nghiệm), kiểm toán viên nhà nước có thể thông qua đơn vị được kiểm toán để tìm hiểu thêm về các thủ tục kiểm soát của tổ chức cung cấp dịch vụ hoặc đến thực địa tại tổ chức cung cấp dịch vụ để tìm hiểu.

Trao đổi với đơn vị được kiểm toán về những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ được phát hiện trong quá trình kiểm toán

17.       Kiểm toán viên nhà nước phải trao đổi một cách kịp thời bằng văn bản với đơn vị được kiểm toán về những khiếm khuyết nghiêm trọng, hoặc theo xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên nhà nước là nghiêm trọng, được phát hiện trong quá trình kiểm toán và cần sự lưu ý của đơn vị được kiểm toán. Những vấn đề mà kiểm toán viên nhà nước phát hiện trong quá trình kiểm toán và cần trao đổi với đơn vị được kiểm toán gồm:

(i)               Việc giám sát các kiểm soát mà đơn vị được kiểm toán cần thực hiện, kể cả giám sát các kiểm soát do tổ chức cung cấp dịch vụ thực hiện;

(ii)             Trường hợp đơn vị được kiểm toán không thực hiện các kiểm soát bổ sung được mô tả trong báo cáo của tổ chức cung cấp dịch vụ;

(iii)          Các kiểm soát cần phải có tại tổ chức cung cấp dịch vụ nhưng chưa được thực hiện hoặc chưa được nêu cụ thể trong báo cáo của tổ chức cung cấp dịch vụ.

Báo cáo về việc mô tả hệ thống và thiết kế các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ không bao gồm các dịch vụ của tổ chức thầu phụ

18.       Nếu báo cáo của tổ chức cung cấp dịch vụ mà kiểm toán viên nhà nước dự định sử dụng không cung cấp thông tin về các kiểm soát của tổ chức thầu phụ, nhưng các dịch vụ của tổ chức thầu phụ lại liên quan đến việc kiểm toán báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán thì kiểm toán viên nhà nước phải áp dụng các quy định của Chuẩn mực này đối với các dịch vụ do tổ chức thầu phụ cung cấp.

19.       Nội dung và phạm vi công việc được kiểm toán viên nhà nước thực hiện liên quan đến các dịch vụ do tổ chức thầu phụ cung cấp tùy thuộc vào bản chất và tầm quan trọng của những dịch vụ này đối với đơn vị được kiểm toán và mối liên hệ của các dịch vụ này với cuộc kiểm toán. Việc áp dụng quy định tại Đoạn 07 Chuẩn mực này sẽ hỗ trợ kiểm toán viên nhà nước trong việc xác định ảnh hưởng của tổ chức thầu phụ và nội dung, phạm vi công việc cần thực hiện.

Hành vi gian lận, không tuân thủ pháp luật và các quy định, và các sai sót chưa được điều chỉnh liên quan đến các hoạt động tại tổ chức cung cấp dịch vụ

20.       Kiểm toán viên nhà nước phải phỏng vấn đơn vị được kiểm toán về việc tổ chức cung cấp dịch vụ đã báo cáo cho đơn vị, hay đơn vị có biết được về bất kỳ hành vi gian lận, không tuân thủ pháp luật và các quy định, hoặc các sai sót chưa được điều chỉnh có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị. Kiểm toán viên nhà nước phải đánh giá mức độ ảnh hưởng của các vấn đề đó đến nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo, kể cả ảnh hưởng đến các kết luận kiểm toán và báo cáo kiểm toán.

21.       Kiểm toán viên nhà nước cũng có thể yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp thêm thông tin để thực hiện việc đánh giá này, và có thể yêu cầu đơn vị được kiểm toán liên hệ với tổ chức cung cấp dịch vụ để thu thập thông tin cần thiết.

Báo cáo kiểm toán

22.       Trong trường hợp kiểm toán viên nhà nước không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các dịch vụ được cung cấp có liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên nhà nước phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.Việc đưa ra ý kiến kiểm toán ngoại trừ hay từ chối đưa ra ý kiến tùy thuộc vào kết luận của kiểm toán viên nhà nước về việc các ảnh hưởng có thể có đối với báo cáo tài chính, thông tin tài chính là mang tính chất trọng yếu hay lan tỏa.

23.       Kiểm toán viên nhà nước không thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các dịch vụ được cung cấp có liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính, thông tin tài chính của đơn vị được kiểm toán có thể xảy ra khi:

(i)               Kiểm toán viên nhà nước không thể hiểu đầy đủ về các dịch vụ được cung cấp, và không có cơ sở để xác định và đánh giá các rủi ro có sai sót trọng yếu;

(ii)             Khi đánh giá rủi ro, kiểm toán viên nhà nước kỳ vọng rằng các kiểm soát tại tổ chức cung cấp dịch vụ hoạt động hữu hiệu nhưng lại không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về tính hữu hiệu của các kiểm soát đó;

(iii)          Bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp chỉ thu thập được từ các báo cáo, sổ kế toán, tài liệu do tổ chức cung cấp dịch vụ lưu giữ nhưng kiểm toán viên nhà nước không thể tiếp cận trực tiếp các báo cáo, sổ kế toán, tài liệu đó.

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán

24.       Kiểm toán viên nhà nước lập và lưu trữ trong tài liệu, hồ sơ kiểm toán những vấn đề liên quan đến kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài theo quy định tại CMKTNN 1230 - Tài liệu, hồ sơ kiểm toán của cuộc kiểm toán tài chính.


mang-xa-hoi-facebook mang xa hoi twitter

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn