Giải đáp các thắc mắc về thuế thu nhập doanh nghiệp

TỔNG HỢP CÁC VƯỚNG MẮC TRƯỚC HỘI NGHỊ ĐỐI THOẠI GIỮA BỘ TÀI CHÍNH VÀ DOANH NGHIỆP  NĂM 2014

Câu hỏi 1:
Công ty CP thủy sản Cà Mau hỏi về chính sách thuế TNDN (công văn số 660/CT-TTHT ngày 21/5/2014 của Cục Thuế tỉnh Cà Mau). Nội dung cụ thể như sau: 
1. Theo Điểm b, Khoản 2, Điều 14 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định: “Doanh nghiệp có thu nhập từ chuyển nhượng vốn thì khoản thu nhập này được xác định là  khoản thu nhập khác và kê khai vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.” Như vây, khi chuyển nhượng vốn bị lỗ thì phần lỗ có được đưa vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế?
2. Theo Điểm 2.16, Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định: “Chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh.” Trường hợp Công ty đã vay tiền để góp vốn đầu tư vào dự án, sau khi chuyển nhượng phần vốn góp bị lỗ nên chưa thanh toán hết khoản nợ ngân hàng vì vậy tiếp tục phát sinh lãi phải trả cho ngân hàng. Như vậy khoản lãi vay phát sinh này doanh nghiệp có được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế không?
Đối chiếu với quy định pháp luật hiện hành, Cục Thuế tỉnh Cà Mau nhận thấy những vấn đề doanh nghiệp đặt ra pháp luật chưa quy định rõ, Cục Thuế chuyển nội dung vướng mắc của Công ty cổ phần Thủy sản Cà Mau về Tổng cục Thuế để hướng dẫn cho doanh nghiệp.
Trả lời:
Tổng cục Thuế đã ban hành công văn số 3402/TCT-CS ngày 20/8/2014 gửi Cục Thuế tỉnh Cà Mau với nội dung như sau: 
1. Trường hợp vướng mắc có liên quan đến việc chuyển nhượng vốn:
- Tại khoản 1 Điều 7 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính về thu nhập khác quy định:
“1. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán theo hướng dẫn tại Chương IV Thông tư này.”
- Tại Điểm b, Khoản 2, Điều 14 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định:
“Doanh nghiệp có thu nhập từ chuyển nhượng vốn thì khoản thu nhập này được xác định là  khoản thu nhập khác và kê khai vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp”. 
- Tại khoản 7 Điều 18 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định:
“7. Trường hợp trong cùng kỳ tính thuế, doanh nghiệp có phát sinh hoạt động kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế bị lỗ, hoạt động kinh doanh không được hưởng ưu đãi thuế, thu nhập khác của các hoạt động kinh doanh (không bao gồm thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án (không gắn liền với chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất); thu nhập từ chuyển nhượng quyền thực hiện dự án, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật) có thu nhập (hoặc ngược lại) thì doanh nghiệp bù trừ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động có thu nhập do doanh nghiệp lựa chọn.”
Căn cứ theo các quy định nêu trên, trường hợp khi chuyển nhượng vốn bị lỗ thì phần lỗ này không được đưa vào chi phí được trừ mà doanh nghiệp phải bù trừ vào thu nhập chịu thuế của các hoạt động có thu nhập (không bao gồm thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án (không gắn liền với chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất); thu nhập từ chuyển nhượng quyền thực hiện dự án, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản theo quy định của pháp luật) do doanh nghiệp lựa chọn.
2. Trường hợp vướng mắc có liên quan đến lãi vay ngân hàng để góp vốn đầu tư:
- Tại Điểm 1 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính quy định:
“1. Trừ các khoản chi nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.”
- Tại Điểm 2.27 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính về các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế quy định:
“2.27. Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế.”
Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty vay tiền để góp vốn đầu tư vào dự án, sau khi chuyển nhượng phần vốn góp bị lỗ nên chưa thanh toán hết khoản nợ ngân hàng vì vậy tiếp tục phát sinh lãi phải trả cho ngân hàng thì khoản lãi phải trả nêu trên không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của Công ty
Câu hỏi 2:
Công ty TNHH Tetsugen có vướng mắc về ưu đãi đầu tư (công văn số 10/CT-TTHT ngày 4/1/2012 của Cục Thuế thành phố Hải Phòng) , cụ thể như sau:
Công ty TNHH Tetsugen Việt Nam được cấp Giấy phép đầu tư số 07/GP-KCN-HP ngày 28/10/1999. Công ty thành lập mới từ dự án sản xuất hoá chất xử lý nước dùng trong công nghiệp, xử lý nước thải công nghiệp và sản xuất các thiết bị chuyên dùng có liên quan, thuộc loại hình doanh nghiệp công nghiệp, có trụ sở và nhà xưởng sản xuất đặt tại Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng, công ty xuất khẩu trên 80% sản phẩm. Theo như Giấy phép đầu tư số 07/GP-KCN-HP thì công ty được ưu đãi thuế TNDN là thuế suất 10% từ 28/10/1999 đến 27/10/2049, miễn 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 4 năm tiếp theo.
Công ty được cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 022 023 000031, chứng nhận đăng ký lại ngày 27/5/2008 thay đổi lần thứ 4 ngày 04/02/2010 thì Công ty được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế TNDN theo Giấy phép đầu tư số 07/GP-KCN-HP đến hết năm 2011. Thời gian hưởng ưu đãi còn lại (nếu có) được áp dụng theo mức: thuế suất thuế TNDN 15% trong 12 năm kể từ khi công ty hoạt động kinh doanh, miễn 03 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 07 năm tiếp theo.
Công ty có doanh thu từ năm 2000 và có thu nhập phát sinh từ năm 2004. Cục Thuế cho rằng Giấy phép đầu tư và Giấy chứng nhận đầu tư xác định mức ưu đãi thuế TNDN chưa đúng nên phải xác định lại. 
Trả lời:
Về vướng mắc tại công văn số 10/CT-TTHT ngày 4/1/2012  của Cục Thuế thành phố Hải Phòng nêu trên đã được tổng hợp để hướng dẫn chung tại Thông tư số 199/2012/TT-BTC ngày 15/11/20112 của Bộ Tài chính về việc chuyển đổi ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế TNDN do đáp ứng điều kiện ưu đãi về tỷ lệ xuất khẩu mà bị chấm dứt ưu đãi theo cam kết WTO. Nội dung cụ thể hướng dẫn tại Điểm 2, Điểm 3 Điều 2 Thông tư số 199/2012/TT-BTC như sau:
“2. Doanh nghiệp đang trong thời gian được hưởng ưu đãi thuế TNDN do đáp ứng điều kiện ưu đãi về tỷ lệ xuất khẩu mà bị chấm dứt ưu đãi thuế TNDN đối với điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu theo cam kết WTO, kể từ năm 2012 được lựa chọn để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại tương ứng với các điều kiện thực tế doanh nghiệp đáp ứng ưu đãi đầu tư (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu), cụ thể như sau:
- Được lựa chọn để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại tương ứng với các điều kiện thực tế doanh nghiệp đáp ứng ưu đãi đầu tư quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN có hiệu lực trong thời gian từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy phép thành lập đến trước ngày Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế TNDN có hiệu lực thi hành (theo các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN kể từ kỳ tính thuế năm 2006 trở về trước đến thời điểm doanh nghiệp được cấp giấy phép thành lập).
- Hoặc được lựa chọn để tiếp tục được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại tương ứng với các điều kiện thực tế doanh nghiệp đáp ứng ưu đãi đầu tư theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN có hiệu lực tại thời điểm bị điều chỉnh ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTO (theo các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNDN áp dụng kỳ tính thuế năm 2012).
3. Việc lựa chọn chuyển đổi ưu đãi về thuế TNDN cho thời gian còn lại nêu trên phải đảm bảo nguyên tắc sau:
- Đến năm 2012 doanh nghiệp đang trong thời gian được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi do đáp ứng điều kiện ưu đãi về tỷ lệ xuất khẩu mà bị chấm dứt ưu đãi thuế TNDN do thực hiện cam kết WTO thì được chuyển đổi ưu đãi về thuế suất theo hướng dẫn tại Thông tư này. Nếu đến năm 2012 đã hết thời gian được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi thì không được chuyển đổi ưu đãi về thuế suất.
- Đến năm 2012 doanh nghiệp đang trong thời gian miễn thuế hoặc đang trong thời gian giảm thuế TNDN do đáp ứng điều kiện ưu đãi về tỷ lệ xuất khẩu mà bị chấm dứt ưu đãi thuế TNDN do thực hiện cam kết WTO thì được chuyển đổi ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế theo hướng dẫn tại Thông tư này. Nếu đến năm 2012 đã hết thời gian được miễn thuế hoặc giảm thuế TNDN thì không được chuyển đổi ưu đãi về thời gian miễn thuế hoặc giảm thuế” 
Câu hỏi 3:
Vướng mắc của Công ty thực hiện đầu tư Tòa nhà Thành Đạt 1: Công ty chưa có doanh thu sản xuất kinh doanh, Công ty đề nghị Cục thuế thành phố Hải Phòng giải đáp, chi phí để có mặt bằng xây dựng tòa nhà Thành đạt 1 là 29.896.363.636 đ, Công ty được tính tăng nguyên giá hay tăng chi phí chờ phân bổ? Nếu phải tăng chi phí chờ phân bổ thì thời gian phân bổ chi phí này thực hiện theo thời gian khấu hao TSCĐ trên đất hay thời gian được sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm? (Cục Thuế thành phố Hải Phòng có công văn số 266/CT-TTHT ngày 20/3/2012)
Trả lời:
Về vướng mắc tại công văn số 266/CT-TTHT ngày 20/3/2012 nêu trên được tổng hợp đưa vào hướng dẫn tại Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính. Nội dung cụ thể hướng dẫn tại Điểm 2.2 Khoản 2 Điều 6 và Khoản 5 Điều 7 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính về thuế TNDN; Khoản 5 Điều 2 và Điểm a Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 203/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định như sau:
Tại Điểm 2.2 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 123/2012/TT-BTC nêu trên quy định về chi khấu hao tài sản cố định:
“2.2. Chi khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Chi khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Riêng tài sản cố định phục vụ cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, cơ sở đào tạo, dạy nghề và các thiết bị, nội thất đủ điều kiện là tài sản cố định lắp đặt trong nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, cơ sở đào tạo, dạy nghề; bể chứa nước sạch, nhà để xe, xe đưa đón người lao động, nhà ở trực tiếp cho người lao động do doanh nghiệp đầu tư, xây dựng được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
b) Chi khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (trừ tài sản cố định thuê mua tài chính).
c) Chi khấu hao đối với tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp theo chế độ quản lý tài sản cố định và hạch toán kế toán hiện hành.
d) Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
Doanh nghiệp thực hiện thông báo phương pháp trích khấu hao tài sản cố định mà doanh nghiệp lựa chọn áp dụng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi thực hiện trích khấu hao (ví dụ: thông báo lựa chọn thực hiện phương pháp khấu hao đường thẳng...). Hàng năm doanh nghiệp tự quyết định mức trích khấu hao tài sản cố định theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định kể cả trường hợp khấu hao nhanh (nếu đáp ứng điều kiện).
Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao được trích khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ. Khi thực hiện trích khấu hao nhanh, doanh nghiệp phải đảm bảo kinh doanh có lãi.
Tài sản cố định góp vốn, tài sản cố định điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình có đánh giá lại theo quy định thì doanh nghiệp nhận tài sản cố định này được tính khấu hao vào chi phí được trừ theo nguyên giá đánh giá lại. Đối với loại tài sản khác không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định có góp vốn, điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình và tài sản này có đánh giá lại theo quy định thì doanh nghiệp nhận tài sản này được tính vào chi phí được trừ theo giá đánh giá lại.
Đối với tài sản cố định tự làm nguyên giá tài sản cố định được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ là tổng các chi phí sản xuất để hình thành nên tài sản đó.
Đối với tài sản là công cụ, dụng cụ, bao bì luân chuyển, … không đáp ứng đủ điều kiện xác định là tài sản cố định theo quy định thì chi phí mua tài sản nêu trên được phân bổ dần vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng tối đa không quá 2 năm.
e) Phần trích khấu hao tương ứng với phần nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống mới đăng ký sử dụng và hạch toán trích khấu hao tài sản cố định từ ngày 01/01/2009 trở đi (trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn); phần trích khấu hao đối với tài sản cố định là tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch.
Ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn là các ô tô được đăng ký tên doanh nghiệp mà doanh nghiệp này trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có đăng ký một trong các ngành nghề: vận tải hành khách, du lịch, kinh doanh khách sạnvà được cấp phép kinh doanh quy định tại các văn bản pháp luật về kinh doanh vận tải, hành khách, du lịch, khách sạn.
Tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, khách du lịch là tàu bay dân dụng, du thuyền của các doanh nghiệp đăng ký và hạch toán trích khấu hao tài sản cố định nhưng trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp không đăng ký ngành nghề vận tải hàng hoá, vận tải hành khách, du lịch.
g) Khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị.
h) Khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất kinh doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào chi phí được trừ đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích không sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trường hợp công trình trên đất như trụ sở văn phòng, nhà xưởng, cửa hàng kinh doanh phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh được xây dựng trên đất thuê, đất mượn của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình (không trực tiếp thuê đất của nhà nước hoặc thuê đất trong khu công nghiệp) doanh nghiệp chỉ được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ theo đúng mức trích khấu hao tài sản cố định quy định hiện hành của Bộ Tài chínhđối với các công trình này nếu đáp ứng các điều kiện sau:
- Có hợp đồng thuê đất, mượn đất giữa doanh nghiệp với đơn vị có đất và đại diện doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của hợp đồng.
- Hóa đơn thanh toán khối lượng công trình xây dựng bàn giao kèm theo hợp đồng xây dựng công trình, thanh lý hợp đồng, quyết toán giá trị công trình xây dựng mang tên, địa chỉ và mã số thuế của doanh nghiệp .
- Công trình trên đất được quản lý, theo dõi hạch toán theo quy định hiện hành về quản lý tài sản cố định.
i) Trường hợp tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đang dùng cho sản xuất kinh doanh nhưng phải tạm thời dừng do sản xuất theo mùa vụ với thời gian dưới 09 tháng; tạm thời dừng để sửa chữa, để di dời di chuyển địa điểm, để bảo trì, bảo dưỡng theo định kỳ, với thời gian dưới 12 tháng, sau đó tài sản cố định tiếp tục đưa vào phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì trong khoảng thời gian tạm dừng đó, doanh nghiệp được trích khấu hao và khoản chi phí khấu hao tài sản cố định trong thời gian tạm dừng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Doanh nghiệp phải lưu giữ và cung cấp đầy đủ hồ sơ, lý do của việc tạm dừng tài sản cố định khi cơ quan thuế yêu cầu.
k) Quyền sử dụng đất lâu dài không được trích khấu hao và phân bổ vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế; quyền sử dụng đất có thời hạn nếu có đầy đủ hoá đơn chứng từ và thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật, có tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì được phân bổ dần vào chi phí được trừ theo thời hạn được phép sử dụng đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trường hợp doanh nghiệp mua tài sản cố định hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất lâu dài thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là tài sản cố định vô hình; Tài sản cố định hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc thì nguyên giá là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản cố định hữu hình vào sử dụng. Giá trị quyền sử dụng đất được xác định theo giá ghi trên hợp đồng mua bất động sản (tài sản) phù hợp với giá thị trường nhưng không được thấp hơn giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm mua tài sản. Trường hợp doanh nghiệp mua tài sản cố định hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất lâu dài không tách riêng được giá trị quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng được xác định theo giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm mua tài sản.”
Tại Điểm a khoản 1 Điều 4 Thông tư số 203/2009/TT-BTC quy định về tài sản cố định hữu hình mua sắm:
“a. TSCĐ hữu hình mua sắm:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và cũ): là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay phát sinh trong quá trình đầu tư mua sắm tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
Trường hợp TSCĐ hữu hình mua trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ là giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có). 
Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình, còn TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc thì nguyên giá là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ hữu hình vào sử dụng.
Trường hợp sau khi mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ để xây dựng mới thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình; nguyên giá của TSCĐ xây dựng mới được xác định là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành. Những tài sản dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ được xử lý hạch toán theo quy định hiện hành đối với thanh lý tài sản cố định.”
Câu hỏi 4:
Công ty phần Chứng Khoán FPT CN TP.HCM (CT. TPHCM) Vướng mắc về thuế chuyển nhượng cổ phần trong Công ty, cụ thể nội dung như sau (công văn số 5016/CT-TTHT Cục thuế TP Hồ Chí Minh) : 
Trường hợp chi nhánh Công ty CP chứng khoán FPT quản lý cổ đông là các tổ chức nước ngoài không hoạt động theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, nay có chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần chưa phải là công ty đại chúng thì sẽ xác định là thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần (áp dụng đối với hoạt động chuyển nhượng vốn là 25%; theo công văn số 12501/BTC-CST ngày 20/9/2010 của Bộ Tài chính về chính sách thuế đối với hoạt động chuyển nhượng cổ phần trong các công ty cổ phần) hay thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán (0,1% tính trên doanh thu tính thuế).
Cục thuế TP HCM đề xuất hướng dẫn tổ chức nước ngoài thực hiện kê khai, nộp thuế theo hướng dẫn tại Thông tư số 123/2012/TT-BTC đối với hoạt động chuyển nhượng vốn.
Trả lời:    
Tổng cục Thuế đã ban hành công văn số 31/TCT-CS ngày 3/1/2014 thống nhất với ý kiến đề xuất của Cục Thuế TP. HCM tại công văn số 5016/CT-TTHT ngày 6/8/2013, theo đó:
Hướng dẫn tổ chức nước ngoài thực hiện kê khai, nộp thuế như đối với hoạt động chuyển nhượng vốn theo quy định tại Thông tư số 123/2012/TT-BTC về thuế TNDN.
Câu hỏi 5:
DNTN TM Trung Nga tỉnh Đăk lăk có vướng mắc về ưu đãi thuế TNDN như sau: DN được Sở KH và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận đăng ký KD - Mã số doanh nghiệp: 6001397334, cấp ngày 27/11/2013; địa chỉ kinh doanh: Thôn Hòa Trung, xã Ea Bông, huyện Krông Na, tỉnh Đắk Lắk; ngành nghề kinh doanh: mua bán nông sản; Chủ doanh nghiệp: Bà Trần Thị Tố Nga. 
DNTN TM Trung Nga KD tại địa điểm và ngành nghề kinh doanh trước đây của Hộ kinh doanh cá thể do chồng bà Trần Thị Tố Nga làm Chủ hộ kinh cá thể. Vậy xin hỏi DN có thuộc diện được miễn thuế TNDN 4 năm đầu và giảm  50% 9 năm tiếp theo không? (Công văn số 2014/CT-TTHT ngày 25/07/2014 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk)
Trả lời:
Tổng cục Thuế đã có công văn trả lời số 4210/TCT-CS ngày 29/09/2014, như sau: 
Về việc áp dụng ưu đãi thuế  TNDN đối với doanh nghiệp mới thành lập:
Tại Điểm b, Khoản 2 Điều 18 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài Chính quy định về điều kiện, nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiêp đối với doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư.
“2. Nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
b) Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh nghiệp đăng ký kinh doanh doanh lần đầu, trừ các trường hợp sau: 
... 
b.3) Doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn mới thành lập mà chủ doanh nghiệp là chủ hộ kinh doanh cá thể và không có thay đổi về ngành nghề kinh doanh trước đây.”
Căn cứ quy định trên, Tổng cục Thuế nhất trí với quan điểm xử lý của Cục Thuế tỉnh Đăk Lăk: trường hợp DNTN TM Trung Nga được thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 nhưng tài sản, địa điểm kinh doanh, ngành nghề kinh doanh của Doanh nghiệp (chủ Doanh nghiệp cho vợ đứng tên) là kế thừa của hộ kinh doanh cũ (chủ hộ do chồng đứng tên) để tiếp tục hoạt động sản xuất kinh doanh (không có thay đổi về ngành nghề kinh doanh) thì DNTN TM Trung Nga không được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo diện doanh nghiệp mới thành lập từ dự án đầu tư quy định tại Nghị định số 124/2008/NĐ-CP và Thông tư số 123/2012/TT-BTC.
Câu hỏi 6
Công ty TNHH Tâm Châu hỏi về miễn thuế TNDN đối với tiền đền bù thiệt hại do thu hồi đất.
Trả Lời: 
Ngày 4/8/2014, Tổng cục Thuế đã báo cáo Bộ: Về vấn đề chính sách thuế đối với tiền nhận bồi thường, hỗ trợ do phải di dời cơ sở sản xuất kinh doanh, mỗi trường hợp có tính chất đặc thù riêng và phức tạp, không thể có một hướng dẫn chung áp dụng cho các trường hợp. Lãnh đạo Bộ có ý kiến chỉ đạo trước mắt TCT trình Bộ báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với 2 trường hợp (Công ty cơ khí Hà Nội và các đơn vị của Tập đoàn Dệt May). Hiện nay, đối với cả hai trường hợp này đều chưa xử lý dứt điểm. Do đó, Tổng cục Thuế trình Bộ cho phép sau khi có kết quả xử lý chính thức đối với 2 trường hợp nêu trên để có nguyên tắc xử lý, sau đó Tổng cục Thuế báo cáo Bộ từng trường hợp cụ thể để xử lý.
Câu hỏi 7:
Vướng mắc của Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lắk về kê khai thuế TNDN, GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS (Công văn số 2442/CT-THNVDT ngày 23/8/2013 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk) 
Trả lời:
Về nội dung vướng mắc kê khai thuế TNDN, GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk (vướng mắc của Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lắk và Công ty cà phê Buôn Mê Thuột ), Tổng cục Thuế đã trình Bộ trả lời UBND tỉnh Đắk Lắk, Cục thuế tỉnh Đắk Lắk về vướng mắc trên theo hướng như sau: 
“Trường hợp năm 2007, Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lắk được UBND tỉnh giao 6.503m2 có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng căn hộ cao cấp, mức thu tiền sử dụng đất sau khi giao đất cho Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lắk tại QĐ số 2581/QĐ-UBND ngày 10/10/2007 là 25.842.600.000đ Công ty đã  nộp hết 01 lần vào NSNN, sau đó Công ty đầu tư xây dựng chung cư để bán bao gồm 03 block, tổng diện tích xây dựng là 48.436 m2 gồm 414 căn hộ (76m2 và 110m2) và qua các năm, Công ty đã chuyển nhượng nhiều căn hộ cho các tổ chức, cá nhân thì xác định giá tính thuế GTGT, doanh thu tính thuế TNDN khi chuyển nhượng căn hộ như sau: 
- Giá tính thuế GTGT là giá chuyển nhượng BĐS trừ giá đất được trừ để tính thuế GTGT. Trường hợp Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lăk được UBND tỉnh Đắk Lắk giao đất để đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng nhà để bán thì giá đất được trừ để tính thuế GTGT bao gồm tiền sử dụng đất phải nộp NSNN (không kể tiền sử dụng đất miễn, giảm) và chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định pháp luật. 
- Doanh thu chuyển nhượng BĐS để tính thuế TNDN được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng BĐS theo hợp đồng chuyển nhượng, mua bán BĐS mà Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lắk ký với khách hàng. Trường hợp giá CQSDĐ theo hợp đồng chuyển nhượng, mua bán BĐS thấp hơn giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng BĐS thì tính theo giá đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng BĐS.”
Tuy nhiên về nội dung vướng mắc kê khai thuế TNDN, GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS nêu trên, Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk có công văn  số 2113/CT – THNVDT ngày 4/8/2014 về trường hợp Công ty TNHH MTV Cà Phê Buôn Ma Thuột. Tổng cục Thuế có gửi Phiếu tham gia số 7181/TCT–CS ngày 26/09/2014 gửi Vụ PC, Vụ CST, Cục Quản lý Công sản xin ý kiến tham gia. Do ý kiến tham gia của các đơn vị chưa được thống nhất, Vụ Chính sách đã tổng hợp ý kiến tham gia của các đơn vị, trình Tổng cục trình Bộ theo hướng như  sau: 
            “Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp năm 2004, Công ty ký hợp đồng với các cá nhân về việc góp vốn mua nhà, trong hợp đồng góp vốn có xác định rõ tiền sử dụng đất của lô đất, khi thu tiền theo tiến độ Công ty đã xuất hóa đơn có tách riêng tiền sử dụng đất và giá trị xây lắp; tuy nhiên đến năm 2012, hai bên mới thực hiện ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì doanh thu để tính thuế TNDN là giá thực tế chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng, trường hợp giá chuyển quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm ký hợp đồng góp vốn thì tính theo giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm ký hợp đồng góp vốn (năm 2004).
Về việc xác định số thuế TNDN tạm nộp và quyết toán thuế TNDN đối với giao dịch bất động sản, Công ty thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm 1.1 Khoản 1 Mục II Phần G Thông tư số 130/2008/TT – BTC ngày 26/12/2008 và Tiết a Khoản 1 Điều 17 Chương V Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính.”
Do vậy, đối với nội dung vướng mắc kê khai thuế TNDN, GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng BĐS của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk về trường hợp Công ty CP Hoàng Anh Đắk Lắk, Công ty Café Buôn Mê Thuột. Sau khi có ý kiến chỉ đạo chính thức của Bộ, Tổng cục Thuế trả lời Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk để xử lý thống nhất
 

mang-xa-hoi-facebook mang xa hoi twitter

Các bài viết mới

Các tin cũ hơn